Ma tâm

Ma tâm

4/14/2016

Ni Đoàn và sự tồn tại của Diệu Pháp


Như trong bài kinh Mahāpajāpati Gotamī và tạng Luật, Tiểu Phẩm,Chương thứ 10 Tỳ-khưu-ni còn ghi lại, Đức Thế Tôn sau sáu lần cầu thỉnh của bà Gotami và ngài Ananda, cuối cùng đã chấp thuận cho thành lập giáo đoàn Ni với điều kiện bà Gotami và Ni chúng phải chấp nhận Tám Kính Pháp suốt đời không được vượt qua.
Bà Gotami đã hoan hỷ chấp nhận Tám Kính Pháp để được làm Tỳ-kheo-ni đệ tử Phật. Tôn giả Ananda đã bạch lại Đức Thế Tôn và được Ngài chánh biến tri về sự tồn tại của Diệu Pháp như trong trích đoạn kinh dưới đây:
“Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:  
- Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpa Gotamī đã chấp nhận Tám Kính Pháp này, cho đến trọn đời không có vượt qua.
Này Ānanda, nếu nữ nhân không được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai thuyết giảng, thời này Ānanda, Phạm hạnh được an trú lâu dài, và Diệu Pháp được tồn tại đến MỘT NGÀN NĂM. Vì rằng, này Ānanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nay này Ānanda, Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài, thời này Ānanda, Diệu Pháp được tồn tại NĂM TRĂM NĂM.
Ví như, này Ānanda, những gia đình nào có nhiều phụ nữ, ít đàn ông, thời những gia đình ấy rất dễ bị các đạo tặc, trộm cắp não hại. Cũng vậy, này Ānanda, nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, nên Phạm hạnh sẽ không được an trú lâu dài.
Ví như, này Ānanda, khi nào một chứng bệnh được tên là "trắng như xương" rơi vào một ruộng lúa đã chín, thời ruộng lúa ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ānanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không có an trú lâu dài.
Ví như, này Ānanda, khi nào một chứng bệnh được tên là "đỏ sét" rơi vào một ruộng mía đã chín, thời ruộng mía ấy không có an trú lâu dài. Cũng vậy, này Ānanda, khi nào nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật này, thời Phạm hạnh này không được an trú lâu dài.
Ví như, này Ānanda, một người vì nghĩ đến tương lai XÂY DỰNG BỜ ĐÊ CHO MỘT HỒ NƯỚC LỚN để nước không thể chảy qua, cũng vậy, này Ānanda, vì nghĩ đến tương lai, Ta mới ban hành KÍNH TÁM PHÁP này, cho các Tỷ-kheo-ni cho đến trọn đời không vượt qua (AN 8:51)
Hẳn nhiên Đấng Chánh Biến Tri trước một vấn đề tối hệ trọng là sự tồn tại của Diệu Pháp, Ngài không thể nhầm lẫn giữa NĂM TRĂM NĂM (500) và NĂM NGÀN NĂM (5000) như một số người lầm tưởng. Xin lưu ý cả hai tạng Kinh và Luật cũng đều ghi rõ là NĂM TRĂM NĂM chứ không phải năm ngàn năm như luận giải của người đời sau.
Điều cần nhấn mạnh thêm là đúng năm trăm năm sau khi Phật nhập diệt một loạt các luận sư Bà-la-môn đã gia nhập Tăng đoàn và giới thiệu hàng loạt các kinh - luật - luận đời mới cho Phật giáo. Các Phật tử cần nghiêm chỉnh nhận chân sự thật này để cảnh giác trước tất cả các tam tạng đời mới cùng các xu hướng trái với Pháp và Luật gốc, xuất phát từ các luận sư gốc Bà-la-môn kể từ sau khi Phật đã nhập Niết Bàn năm trăm năm.
Riêng các Tỳ-kheo-ni cần phải hiểu rằng, vì sự thành lập của giáo đoàn Ni mà chánh Pháp chỉ còn tồn tại năm trăm năm, do vậy họ càng phải giữ gìn giới luật tốt hơn nữa để tự cứu mình và đền đáp công ơn của Phật. Tỳ-kheo-ni thực hành tốt đẹp Tám Trọng Pháp của Phật ban đặt, là củng cố “bờ đê” giúp cho Phạm hạnh và Diệu Pháp được tồn tại lâu dài; và đây chính là một trong những phẩm chất quan trọng xác định một Tỳ-kheo-ni.
Trích đoạn Thánh Luật sau đây là minh chứng:
“[520] … Sau đó, Đại Đức Ānanda đã đi đến gặp Đức Thế Tôn, sau khi đến đã đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống ở một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, Đại Đức Ānanda đã nói với Đức Thế Tôn điều này:
- Bạch Ngài, bà Mahāpajāpati Gotamī đã nói như vầy: “Thưa Đại Đức Ānanda, các Tỳ-khưu-ni này đã nói với tôi như vầy: ‘Bà chưa được tu lên bậc trên, và chúng tôi đã được tu lên bậc trên; bởi vì Đức Thế Tôn đã quy định như thế này: Các Tỳ-khưu-ni được tu lên bậc trên với các Tỳ-khưu.’”
- Này Ānanda, kể từ lúc bà Mahāpajāpati Gotamī thọ nhận TÁM TRỌNG PHÁP, chính việc ấy là đã được tu lên bậc trên đối với bà.”(Tiểu Phẩm, Chương Tỳ-khưu-ni)
Bà Mahāpajāpati Gotamī là vị Ni trưởng đầu tiên được  chính Đức Thế Tôn thọ ký và vì vậy việc bà chấp nhận Tám Trọng Pháp được xem như bà đã là một Tỳ-kheo-ni chính thức. Qua đây đủ thấy Tám Kính Pháp quan trọng như thế nào.
Do vậy các Tỳ-kheo-ni khác được tu lên bậc trên với các Tỳ-kheo, nếu các vị thực hành nghiêm giới hạnh cùng Tám Trọng Pháp, các vị mới đích thực là những vị Ni có trí tuệ và mẫu mực chân chánh.
Lại nữa, dù Đức Chánh Biến Tri đã tiên tri chính xác Diệu Pháp chỉ tồn tại năm trăm năm, thế nhưng điều này không có nghĩa Phật Pháp bị diệt mất hoàn toàn, trái lại đây chỉ là sự gián đoạn của Phật Pháp. Thật vậy, trong chánh Kinh Nikāya và chánh Luật Pātimokkha, Đức Thế Tôn đã nhiều lần tuyên bố những nguyên nhân khác nữa khiến Chánh Pháp được duy trì tồn tại lâu dài. Điển hình như điều Ngài dạy trong Tạng Luật:
“Khi Tạng Kinh quên lãng
và luôn Tạng Diệu Pháp,
còn Tạng Luật chưa hoại
Giáo Pháp vẫn tồn tại.” 
(Đại Phẩm, phần cuối Chương Trọng Yếu)
Khi Phật dạy điều này, Đạo Phật chỉ có duy nhất một tạng Luật Pātimokkha và Chín Tạng Thánh Kinh mà thôi. Chín Tạng Thánh Kinh đó là: Khế Kinh, Ứng Tụng, Ký Thuyết, Phúng Tụng, Không Hỏi Tự Nói, Như Thị Thuyết, Bổn Sanh, Vị Tằng Hữu Pháp, và Phương Quảng‘Tạng Kinh’ trong bài kệ trên chính là Chín Tạng Thánh Kinh, còn Tạng Diệu Pháp chính là 37 Phẩm Trợ Đạo.
Rõ ràng hiện nay Chín Tạng Thánh Kinh và Diệu Pháp 37 Phẩm Trợ Đạo đã bị quên lãng, không còn được lưu ý tu tập. Tuy vậy Tạng LuậtPātimokkha vẫn còn nguyên vẹn trong các nước Phật giáo Nam Truyền, và vì vậy xem như Giáo Pháp của Phật thật sự vẫn còn tồn tại trong những xứ này.
Bởi lẽ, các Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni nào biết dựa theo Tạng LuậtPātimokkha này giữ gìn giới hạnh nghiêm chỉnh, thanh tịnh; nhờ vậy họ mới có khả năng thâm hiểu và thực hành theo Kinh Tạng Nikāya cùng Diệu Pháp 37 Phẩm Trợ Đạo và các Học Pháp khác. Chính từ đây Chánh Kinh Nikāya và Diệu Pháp sẽ không còn bị quên lãng, trái lại sẽ được xương minh sáng ngời.
Tất nhiên, đối với các Tỳ-khưu-ni, bên cạnh Thánh Kinh và Diệu Pháp 37 Phẩm Trợ Đạo, Giáo Pháp được tồn tại và củng cố tốt hơn với Tám Kính Pháp được tôn trọng.
Dưới đây là một trong những minh chứng cho thấy Diệu Pháp có thể được tồn tại lâu dài nhờ vào nhiều nguyên nhân khác nữa.
Phật dạy: “Do BỐN NIỆM XỨ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết Bàn, Diệu Pháp không có tồn tại lâu dài. Do BỐN NIỆM XỨ ĐƯỢC TU TẬP, được làm cho sung mãn, này Bà-la-môn, khi Như Lai nhập Niết Bàn, Diệu Pháp được TỒN TẠI LÂU DÀI” (S.v,174)
Theo trên đủ biết pháp môn Bốn Niệm Xứ quan trọng như thế nào. Những ai đang nghĩ mình là con Phật, đang tu theo pháp Phật có biết thế nào là QUÁN THÂN TRÊN THÂN, QUÁN THỌ TRÊN THỌ, QUÁN TÂM TRÊN TÂM, QUÁN PHÁP TRÊN PHÁP? Không biết hoặc biết không rõ thì xem như Diệu Pháp đã không còn tồn tại rồi!
Thêm nữa, đương thời Phật, tôn giả Kimbila đã hỏi Đức Phật về Diệu Pháp tồn tại lâu dài và đã được Ngài trả lời cụ thể:
1. Như vầy tôi nghe: Một thời, Thế Tôn trú ở Kimbila, tại rừng Trúc. Rồi Tôn giả Kimbila đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kimbila bạch Thế Tôn:
2. - Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì, sau khi Như Lai nhập diệt,Diệu Pháp không còn tồn tại lâu dài?
3. - Ở đây, này Kimbila, khi Như Lai nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo sư,sống không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính, không tùy thuận chúng Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận Học pháp; sống không cung kính, không tùy thuận không phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận tiếp đón.
Này Kimbila, đây là nhân, đây là duyên khiến cho khi Như Lai nhập diệt, Diệu Pháp không tồn tại lâu dài.
4. – Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì khi Như Lai nhập diệt, Diệu Pháp được tồn tại lâu dài?
5. - Ở đây, này Kimbila, khi Thế Tôn nhập diệt, các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính tùy thuận Pháp; sống cung kính tùy thuận chúng Tăng; sống cung kính tùy thuận Học pháp; sống cung kính tùy thuận không phóng dật;sống cung kính tùy thuận tiếp đón.
Ðây là nhân, đây là duyên, khi Như lai nhập diệt, Diệu Pháp được tồn tại lâu dài.” (Kinh Tôn Giả Kimbila, Tăng Chi 3, Chương 6, Phẩm Chư Thiên)
Hẳn nhiên cái gì duy nhất mới đáng quý, chân lý và Cứu cánh Chân lý cũng duy nhất một và chỉ có một mà thôi. Do vậy:
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuận một bậc Đạo Sư duy nhất là Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni, chứ không phải ngàn vạn Bụt giả, vô số Bồ-tát giả do các luận sư gốc Bà-la-môn ngụy tạo ra nhằm tầm thường hóa Phật Bảo, phân ly hóa Đạo Phật.
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuận một chánh Pháp duy nhất trong Chín Tạng Thánh Kinh gốc, chứ không phải “tám vạn bốn ngàn pháp” ngụy tạo do các luận sư gốc Bà-la-môn cải biến tung vào phá hoại Phật Pháp, nhất là kể từ năm trăm năm sau khi Phật nhập diệt.
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuậncác hội chúng Tăng thanh tịnh sống đúng theo Pháp của Phật, Luật của Phật.
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuận một Học pháp duy nhất còn nguyên vẹn với 37 Phẩm Trợ Đạo, với Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý Túc, Bốn Niệm Xứ, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi, Tám Chánh Đạo, Thân Hành Niệm, Định Niệm Hơi Thở, Chỉ Quán v.v… chứ không phải các pháp tà vạy ngoại lai hư ngụy do các tổ sư gốc Bà-la-môn đưa vào phá hoại Đạo Phật.
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuận một Thiền định duy nhất là Chánh Định trong Tám Chánh Đạo, tức Bốn Thiền - Bốn Thánh Định bao gồm Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền; chứ không phải thứ tà thiền tà định của các tổ sư gốc Bà-la-môn gián điệp, hoặc thứ thiền định tưởng tri “tà thiền là chánh thiền, tà định là chánh định”.
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính, tùy thuậnkhông phóng dật theo đúng hướng Chánh Tinh Tấn tức Bốn Chánh Cần thuộc Tám Chánh Đạo. Đó là tinh tấn ngăn ác, diệt ác, sanh thiện, tăng trưởng thiện. Không cung kính tùy thuận phóng dật theo hướng tà tinh tấn: ngăn thiện, diệt thiện, sanh ác, tăng trưởng ác.
Các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống cung kính tùy thuậnnghinh đón đúng chánh Tam Bảo, đúng chánh Phật Pháp, đúng chánh Giới hạnh. Không cung kính tùy thuận nghinh đón “Tam bảo” giả, “Phậtpháp” giả, “Giới luật” giả do các giả sư ngoại giáo tạo ra gây phân hóa Phật giáo, phá hòa hợp Tăng.
Có vậy, khi Như Lai nhập diệt, Diệu Pháp mới được tồn tại lâu dài.
Tóm lại tất cả các đệ tử Phật từ Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, sadi, sadi ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ phải xem giới luật của Phật là sinh mạng của đời mình, phải cẩn trọng gìn giữ nghiêm chỉnh. Các đệ tử có thanh tịnh giới hạnh và thực hành đúng những lời Phật dạy trong Chánh Kinh Chánh Luật thì Thánh Pháp mới tồn tại lâu dài được. Trong đó riêng đối với các Tỳ-kheo-ni thì Tám Trọng Pháp chính là “bờ đê” giúp ngăn ngừa sự suy thoái, và giúp Diệu Pháp hưng thịnh.
Mong rằng tất cả các đệ tử Phật ý thức được điều này để giữ mình trong Thánh Giới, Thánh Hạnh và Thánh Pháp của Đức Thế Tôn, góp phần duy trì Diệu Pháp tồn tại lâu dài.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Diệu Diệu Âm
___________________
Ghi chú:  Các trích dẫn trong bài từ tạng kinh Nikaya theo bản dịch của HT Thích Minh Châu, từ tạng Luật Patimokkha theo bản dịch của Tỳ-kheo Nguyệt Thiên.

(Ảnh Internet)



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét