Ma tâm

Ma tâm

2/09/2016

Phát tai hay phát tài?



Tết đến, hai cư sĩ ngồi nói chuyện với nhau trong sân chùa. Cư sĩ áo lam:
- Này ông, tết này nhiều chùa có mốt mới, thầy trụ trì cầm một cọc tiền lì xì cho người đến lễ chùa. Còn chỗ khác tu sĩ ngồi cả hàng dài như ăn xin để nhận tiền lẻ từ khách. Mấy ổng gọi là phát lộc, “Bát hội” đầu năm. Tui thấy chướng quá!
Cư sĩ áo trắng lắc đầu:
- Hừ, phát tài hay phát tai? Tui hỏi ông: Tăng Ni nhận tiền, giữ tiền là phá giới hay giữ giới?
- Phá giới chứ giữ giới sao được!
- Đồng tiền cho và nhận từ kẻ phá giới có thanh tịnh hay không thanh tịnh?
- Không thanh tịnh.
- Đồng tiền không thanh tịnh đem lại may mắn hay không may mắn?
- Không may mắn.
- Người tu và cư sĩ nào hiểu đạo, giữ giới chẳng ai làm điều phi pháp, phi luật như vậy.
- Tui thấy nhiều nơi phát lộc đầu năm bằng những câu Pháp Cú, những lời Phật dạy, thiệt ý nghĩa vô cùng.
- Đúng vậy. Mấy chùa đó chúng ta đến viếng và nhớ lại lời Phật dạy là gieo duyên lành đầu năm.
- Như chùa này vậy.
Nói xong, cư sĩ áo trắng bước đến cành mai có treo nhiều bao lì xì, vói tay hái lộc. Vừa đọc xong “lộc Pháp”, cư sĩ áo trắng hớn hở:
- Ông xem có thiêng không, câu Pháp cú số 354 đầu năm dành cho tui nè: "Pháp thí, thắng mọi thí! Pháp vị, thắng mọi vị! Pháp hỷ, thắng mọi hỷ! Ái diệt, dứt mọi khổ!" 
- Lành thay, ông đã được Pháp thí, Pháp vị, Pháp hỷ giúp diệt mọi khổ đau! Còn gì may mắn hơn nữa.

Chánh Cư Sĩ
_________________________________
Tham khảo
THUYẾT GIỚI ƯNG XẢ ÐỐI TRỊ
(Nissaggiyapācittiye vitthāruddeso)
*
PHẨM 1: PHẨM Y
10. Ðức vua, quan lại, Bà-la-môn hoặc gia chủ gởi theo sứ giả số tiền sắm y, nói rằng: "Ngươi hãy lấy số tiền sắm y này mua y rồi dâng cho vị Tỳ-kheo tên ấy mặc". Nếu vị sứ giả ấy đi đến vị Tỳ-kheo nọ và nói như sau: "Bạch Tôn giả, số tiền sắm y này được để dành cho Ngài, xin Ngài hãy nhận lãnh số tiền sắm y" vị Tỳ-kheo nọ nên bảo sứ giả rằng: "Này đạo đạo hữu, chúng tôi không thọ nhận tiền sắm y, chúng tôi chỉ nhận lãnh y hợp thời thôi" Nếu vị sứ giả ấy nói với vị Tỳ-kheo nọ rằng: "Có ai là người phục dịch cho Tôn giả chăng?"
Nầy chư Tỳ khưu, vị Tỳ-kheo có nhu cầu y thì nên chỉ ra người phục dịch hoặc người hộ tự hoặc một cận sự nam: “Này đạo hữu, đó là người phục dịch của chư Tỳ khưu". Nếu vị sứ giả ấy giao việc cho người phục dịch kia rồi, bèn đến vị Tỳ-kheo nọ mà nói như sau: "Bạch Tôn giả, người phục dịch mà Ngài đã chỉ ra, người ấy được tôi giao việc rồi, Tôn giả hãy đến họ và họ sẽ dâng y hợp thời cho Ngài mặc".
Nầy chư Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo có nhu cầu y nên đến người phục dịch mà thông báo gợi ý đôi ba lần rằng: "Ðạo hữu, tôi cần y". Khi thông báo gợi ý đôi ba lần, có được y ấy, như thế là tốt; bằng không thành thì phải đứng im lặng trước mặt họ bốn năm lần; nhiều lắm là sáu lần; khi đứng im lặng trước họ bốn, năm, sáu lần mà có được y ấy như thế là tốt, nếu không thành mà cố gắng vượt quá hạn ấy, thành tựu y, phạm ưng xả đối trị. Nếu vẫn không thành thì từ đâu đưa tiền sắm y, phải tự mình đến đấy hoặc phái người đi, nói rằng: "Các đạo hữu, tiền sắm y mà các ông đã gởi để dâng vị Tỳ-kheo, tiền đó không thành tựu lợi ích gì cho vị Tỳ-kheo ấy; các ông hãy đòi lại vật sở hữu, đừng bỏ phí vật sở hữu của các ông". Ðây là cách làm đúng trong trường hợp này.(Trích Tạng Luật, TK Indacanda dịch)
- $ -
GIỚI ƯNG XẢ ĐỐI TRỊ TỔNG QUÁT
PHẨM 2: PHẨM TƠ TẰM
Điều 18: Vị Tỳ-kheo nào nhận lấy vàng và bạc, hoặc sai nhận lấy, hoặc vui thích của để dành cho, phạm ưng xả đối trị.
[106] ... Sau khi xả bỏ, nên sám hối tội. Tội nên được ghi nhận bởi vị tỳ khưu có kinh nghiệm, đủ năng lực. Nếu có người phụ việc chùa hoặc nam cư sĩ đi đến nơi ấy thì nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hãy nhận biết vật này.” Nếu người ấy nói rằng: “Với vật này, hãy để cho vật gì được mang lại?” Không nên nói rằng: “Hãy mang lại vật này hoặc vật này.” Nên đề cập đến vật được phép là bơ lỏng, hoặc dầu ăn, hoặc mật ong, hoặc đường mía. Nếu người ấy sau khi dùng (vàng bạc) ấy trao đổi và đem lại vật được phép thì tất cả nên thọ dụng trừ ra vị đã thọ lãnh vàng bạc. Nếu điều ấy có thể đạt được như vậy, như thế việc này là tốt đẹp; nếu không thể đạt được thì nên nói với người ấy rằng: “Này đạo hữu, hãy quăng bỏ vật này.” Nếu người ấy quăng bỏ, như thế việc này là tốt đẹp; nếu (người ấy) không quăng bỏ thì nên chỉ định vị quăng bỏ vàng bạc là vị tỳ khưu hội đủ năm điều kiện: là vị không thể bị chi phối bởi sự ưa thích, không thể bị chi phối bởi sự sân hận, không thể bị chi phối bởi sự si mê, không thể bị chi phối bởi sự sợ hãi, là vị biết vật đã được quăng bỏ hoặc chưa được quăng bỏ.
Điều 19: Vị Tỳ-kheo nào dự việc mậu dịch tài sản bằng mọi hình thức phạm ưng xả đối trị. (Trích “Luật Nghi Tổng Quát”, TK Giác Giới biên soạn)
- $ -
DƯỚI ĐÂY LÀ CÁC TRÍCH ĐOẠN TRONG KINH NIKAYA
 do HT Thích Minh Châu dịch Việt
X. Manicùlam (Châu báu trên đỉnh đầu) (S.iv,325)
“Này Thôn trưởng, các Sa-môn Thích tử không được phép dùng vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được giữ vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử không được nhận lấy vàng bạc. Các Sa-môn Thích tử đã từ bỏ châu báu và vàng bạc. Họ đã ly khai vàng và bạc. Ðối với ai được dùng vàng bạc, người ấy cũng được phép dùng năm dục công đức. Ðối với ai được phép dùng năm dục công đức, người ấy hoàn toàn thọ trì phi Sa-môn pháp, phi Thích tử pháp. Này Thôn trưởng, Ta nói như sau: Cỏ được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỏ. Củi được đi tìm cầu bởi ai cần đến củi. Cỗ xe được đi tìm cầu bởi ai cần đến cỗ xe. Người được đi tìm cầu bởi ai cần đến người. Nhưng này Thôn trưởng, không bất cứ một lý do gì Ta nói rằng vàng, bạc được chấp nhận, được tìm cầu”.
- $ -
Kinh Tăng Chi tập 1, Chương 4, V. Phẩm Rohitassa,
(X) (50) Các Uế Nhiễm
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng. Thế nào là bốn?
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn uống rượu men, uống rượu nấu, không có từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ nhất của Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn, không có cháy sáng... không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn, hưởng thọ dâm dục, không từ bỏ dâm dục. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ hai... không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn chấp nhận vàng và bạc, không từ bỏ nhận lấy vàng và bạc. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ ba... không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, một số Sa-môn, Bà-la-môn sinh sống với tà mạng, không từ bỏ tà mạng. Này các Tỷ-kheo, đây là uế nhiễm thứ tư của các Sa-môn, Bà-la-môn, do uế nhiễm này làm ô nhiễm, các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
Này các Tỷ-kheo, có bốn uế nhiễm này của các Sa-môn, Bà-la-môn, do những uế nhiễm này làm ô nhiễm, nên các Sa-môn, Bà-la-môn không có cháy sáng, không có chói sáng, không có rực sáng.
- $ -
V. Trùng Phẩn (Tạp, Ðại 2, 346a) (S.ii,228)
1) ... Tại Sàvatthi.
2) -- Khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
3) Ví như, này các Tỷ-kheo, một con trùng phẩn, ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt có một đống phân lớn.
4) Nó khinh miệt các con trùng phẩn khác và nói: "Ta ăn phân, đầy những phân, tràn ngập những phân, và trước mặt ta, có đống phân lớn này".
5) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào làng hay thị trấn để khất thực. Vị ấy tại đây đã ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát của vị ấy được tràn đầy.
6) Vị ấy đi đến ngôi vườn (tịnh xá) và giữa chúng Tỷ-kheo khoe khoang như sau: "Ta ăn uống no đủ, lại được mời vào ngày mai, và bình bát này của ta tràn đầy. Ta nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bịnh. Nhưng các Tỷ-kheo khác công đức ít, ảnh hưởng ít, không nhận được các vật dụng như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh".
7) Vị ấy bị lợi đắc, cung kính, danh vọng chi phối, tâm bị xâm chiếm, khinh miệt các Tỷ-kheo chánh hạnh khác. Này các Tỷ-kheo, như vậy sẽ đem lại bất hạnh, đau khổ lâu dài cho kẻ ngu si ấy.
8) Như vậy, khổ lụy, này các Tỷ-kheo, là lợi đắc, cung kính, danh vọng...
9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải học tập.

2/08/2016

Chân ngôn Bà-la-môn


Cư sĩ áo nâu mở cuốn kinh Dược sư của Đại giáo thừa, hỏi Cư sĩ áo vàng:
_ Này huynh, ngay phần đầu kinh này có câu chân ngôn làm sạch ngoại cảnh phải đọc tới 21 lần “Án lam sa ha”. Nó có nghĩa là gì và tại sao lại như thế?
_ Án là vụ án. Lam là màu xanh. Sa là rơi xuống. Ha là tiếng cười. “Án lam sa ha” có nghĩa là vụ án màu xanh rơi xuống tiếng cười.
_ Tôi chẳng hiểu gì cả!
_ Tôi cũng thế, và đó chính là ý nghĩa của chân ngôn thần chú.
_ Nhưng tại sao phải làm thế?
_ Vì Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã dạy:“Do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú để đoạn diệt khổ này” (1).
_ Vậy những người tụng chú “Dược sư” tâm bị trói buộc bởi điều gì?
Bởi điểm tựa của truyền thống: “Ðối với Bà-la-môn, này Bà-la-môn, tài sản là mong muốn, trí tuệ là cận hành, chú thuật là điểm tựa, tế tự là xu hướng, cứu cánh là Phạm thiên giới…” (2)
_ Thế ai là cha đẻ thực sự của chú thuật “Dược sư”? Và những người tin chân ngôn thần chú “Dược sư” là ai?
_ Phật Thích Ca đã chỉ rõ: “Thuở xưa những vị ẩn sĩ, giữa các Bà-la-môn, những tác giả các chú thuật, những nhà tụng tán các chú thuật, đã hát, đã nói lên, đã sưu tầm những Thánh cú và nay, những Bà-la-môn hiện tại cũng đã hát lên, nói lên giống như các vị trước đã làm…Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy (ngoại cảnh có sạch không? BY); cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. Này Bharadvaja, Ông nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy, có phải lòng tin của các vị Bà-la-môn trở thành không có căn cứ?” (3)
_ Thì ra là như thế! Nam Mô Dược Sư Lưu Ly Quang Bà-la-môn!
Bạch Y
__________________________
(1) Kinh Tăng Chi tập 3, trang 220
(2) Kinh Tăng Chi tập 3, trang 138
(3) Kinh Canki, Trung Bộ 2. Lưu ý thêm: bài Kinh này đã bị thủ tiêu hoàn toàn trong hệ thống kinh A Hàm cấp 2 phổ biến ở phương Bắc.
-- Chú thích: Trong phần khai kinh Dược sư còn có câu chân ngôn làm sạch thân miệng ý phải đọc bảy lần: “Án sa phạ bà phạ thuật đà, sa phạ đạt ma sa phạ, bà phạ thuật độ hám”. Nếu những ai tín tâm nhắm mắt đọc chân ngôn thần chú này bảy ngàn lần vẫn không thấy thân miệng ý sạch sẽ, hãy mở to mắt và nghiền ngẫm các đoạn kinh Nguyên thủy đã trích dẫn ở trên một lần nữa, may ra sẽ hiểu.

2/07/2016

Kinh Cầu An chính thống của Đạo Phật


Chính Đức Phật Thích Ca đã dạy: “Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.”

Kinh A-sá-nang-chi
hay
(Kinh Hộ Trì Atānātiya - Atānātiya sutta)
(Kinh số 32, Trường Bộ 2)

1. Như vậy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), núi Gijjhakūta (Linh Thứu).
2. Bốn Thiên Vương sau khi sắp đặt trấn giữ bốn phương với đại quân Yakkha (Dạ-xoa), đại quân Gandhabba (Càn-thát-bà), đại quân Kumbhanda (Cưu-bàn-trà) và đại quân Nāga (Na-già), án ngữ bốn phương, bảo trì bốn phương, trong đêm tối thâm sâu, với hào quang tuyệt diệu chói sáng toàn thể núi Linh Thứu, đến tại chỗ Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Các vị Dạ-xoa, có vị đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên những lời chúc tụng, hỏi thăm, rồi ngồi xuống một bên; có vị nói lên tên họ rồi ngồi xuống một bên; có vị im lặng, rồi ngồi xuống một bên.
Sau khi ngồi xuống một bên, Đại Vương Vessavana (Tỳ-sa-môn) bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn có những thượng phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn; bạch Thế Tôn, có những trung phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn, có những hạ phẩm Dạ-xoa tin tưởng Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, nhưng phần lớn các Dạ-xoa không tin tưởng Thế Tôn. Vì sao vậy? Bạch Thế Tôn. Thế Tôn thuyết Pháp để từ bỏ sát sanh, thuyết pháp để từ bỏ trộm cắp, thuyết pháp để từ bỏ tà dâm, thuyết pháp để từ bỏ nói láo, thuyết pháp để từ bỏ không uống các loại rượu. Bạch Thế Tôn, tuy vậy phần lớn các Dạ-xoa đều không từ bỏ sát sanh, không từ bỏ trộm cắp, không từ bỏ tà dâm, không từ bỏ nói láo, không từ bỏ uống các loại rượu. Ðối với họ, Pháp ấy không được ưa thích, không được đón mừng. Bạch Thế Tôn, có những đệ tử của Thế Tôn, sống trong chốn thâm sâu cùng cốc, ít tiếng, ít động, có gió mát từ ngoài đồng thổi, che dấu không cho người thấy, thích hợp tịnh tu. Tại chỗ ấy, có những thượng phẩm Dạ-xoa không tin tưởng lời dạy Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, hãy học chú Atānātiyarakkha (A-sá-nang-chi Hộ Kinh) để họ được lòng tin, để các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ có thể sống an lạc, được che chở, được hộ trì không bị tai họa.
Thế Tôn im lặng chấp thuận.
3. Rồi Đại Vương Vessavana, biết được Thế Tôn đã chấp thuận, trong giờ phút ấy, đọc lên bài Atānātiya Hộ Kinh:
Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết Chơn Diệu Pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
4.
Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimā, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên Vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
5.
Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinā (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virūlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
6.
Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimā (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng.
Chủ các loài Nāgā,
Danh Virūpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nāgā hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
7.
Bắc Lô Châu (Uttarakurū) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atānātā,
Kusinātā, Parakusinātā, Nāttapuriyā, Parakusitannātā
Kapīvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandā,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visānā.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolā, Tattalā, Tatotalā,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sūra, Arittha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilā,
Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamānavakā.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarā (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
8. Tôn giả, Hộ Kinh Atānātiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atānātiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả,vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
9. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha.
Cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
10. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
Inda, Soma, và Varuna,
Bhāradvaja, Pajāpati,
Candana, Kāmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panāda và Opamanna,
Devanita và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla và Suppagedha,
Hirī, Settī và Mandiya,
Pancāla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mānicara, Dīgha,
Atha và Serissaka.
Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atānātiyā che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
- Ðại Vương, Ðại Vương hãy làm điều gì Ðại Vương nghĩ là phải thời.
11. Rồi bốn vị Đại Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về phía Ngài rồi biến mất tại đấy.
Các vị Dạ-xoa ấy, từ chỗ ngồi đứng dậy, có vị đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên những lời hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị chấp tay hướng đến Thế Tôn rồi biến mất tại chỗ; có vị nói lên tên họ của mình rồi biến mất tại chỗ; có vị im lặng biến mất tại chỗ.
12. Rồi Thế Tôn sau khi đêm đã mãn, liền gọi các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, khi hôm, bốn vị Đại Vương cùng với đại quân sư Dạ-xoa đến Ta và đọc lên bài Atānātiya Hộ Kinh như sau:
13.
“Ðảnh lễ Vipassi (Tỳ-bà-thi),
Sáng suốt và huy hoàng!
Ðảnh lễ đấng Sikhi (Thi-khí)
Có lòng thương muôn loài!
Ðảnh lễ Vessabha (Tỳ-xá-bà),
Thanh tịnh, tu khổ hạnh!
Ðảnh lễ Kakusandha (Câu-lâu-tôn),
Vị nhiếp phục ma quân!
Ðảnh lễ Konāgamana, (Câu-na-hàm)
Bà-la-môn viên mãn!
Ðảnh lễ Kassapa (Ca-diếp),
Vị giải thoát muôn mặt!
Ðảnh lễ Angirasa,
Vị Thích tử huy hoàng,
Ðã thuyết Chơn Diệu Pháp,
Diệt trừ mọi khổ đau!
Ai yểm ly thế giới,
Nhìn đời đúng như chơn,
Vị ấy không hai lưỡi,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
Cùng đảnh lễ Gotama,
Lo an lạc Nhơn Thiên
Trì giới đức viên mãn!
Bậc vĩ đại thanh thoát!
14.
Mặt trời sáng mọc lên,
Vầng thái dương tròn lớn,
Khi mặt trời mọc lên,
Ðêm tối liền biến mất.
Khi mặt trời mọc lên
Liền được gọi là ngày.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu.
Ở đấy mọi người biết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy
Là phương Purimā, (phương Đông).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chư loài Càn-thát-bà,
Danh gọi Dhatarattha (Trì Quốc Thiên Vương).
Càn-thát-bà hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
15.
Họ được gọi Peta,
Nói hai lưỡi, sau lưng,
Sát sanh và tham đắm,
Ðạo tặc và man trá,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Dakkhinā (phương Nam).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng,
Chủ loài Kumbhanda (Cưu-bàn-trà)
Danh gọi Virūlhaka (Tỳ-lâu-lặc).
Kumbhanda hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
16.
Mặt trời sáng lặn xuống,
Vầng thái dương trong lớn.
Khi mặt trời lặn xuống.
Ban ngày liền biến mất.
Khi mặt trời lặn xuống,
Liền được gọi là đêm.
Biển cả hải triều động,
Như hồ nước thâm sâu,
Ở đây mọi người hết,
Chính biển cả hải triều,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Pacchimā (phương Tây).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương, danh xưng.
Chủ các loài Nāgā,
Danh Virūpakkha (Tỳ-lâu-bác-xoa).
Loài Nāgā hầu quanh,
Hưởng múa hát của họ.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
17.
Bắc Lô Châu (Uttarakurū) an lạc
Ðại Neru (Tu-di) đẹp đẽ.
Tại đấy, mọi người sống
Không sở hữu, chấp trước.
Họ không gieo hột giống,
Không cần phải kéo cày.
Loài người được thọ hưởng
Lúa chín khỏi nhọc công.
Loại gạo không cám trấu,
Thanh tịnh có hương thơm,
Ðược nấu chín trên đá,
Và họ ăn gạo ấy.
Chỉ cỡi loài bò cái,
Ði phương này phương khác.
Chỉ dùng các loài thú
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn bà kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe đàn ông kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con gái kéo,
Ði phương này phương khác.
Dùng xe con trai kéo,
Ði phương này phương khác.
Họ lên trên các xe,
Ði khắp mọi phương hướng,
Ðể phục vụ vua mình.
Họ cỡi xe voi kéo,
Xe ngựa, xe chư Thiên,
Ðối với vua danh xưng,
Có lâu đài, có kiệu,
Nhiều thành phố của vua,
Ðược xây giữa hư không.
Các thành Atānātā,
Kusinātā, Parakusinātā, Nāttapuriyā, Parakusitannātā
Kapīvanta thuộc phía Bắc,
Và các thành phố khác,
Như Janogha, Navanavatiya,
Ambara, Ambaravatiya,
Alakamandā,
Là kinh đô của vua,
Chỗ Kuvera ở.
Vị vua đáng kính này,
Kinh đô tên Visānā.
Do vậy Kuvera,
Ðược danh Vessavana.
Các sứ quán được tên:
Tatolā, Tattalā, Tatotalā,
Ojasi, Tejasi, Tatojasi,
Vua Sūra, Arittha, Nemi.
Ðây có vùng nước lớn,
Từ đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây mưa đổ xuống,
Ðược tên Dharanī.
Tại đây có giảng đường,
Tên Bhagalavati,
Chỗ Dạ-xoa tập hội.
Tại đây nhiều cây trái,
Trên cây chim tụ họp,
Các loại công, loại cò,
Diệu âm chim Kokilā,
Ở đây, chim Jiva,
Kêu tiếng "Hãy sống đi",
Và tiếng chim kêu lên,
"Hãy khởi tâm thích thú".
Nhiều loại chim sai khác,
Ở rừng và ở hồ,
Với con vẹt ồn ào,
Và con chim Mynah,
Các loại chim thần thoại,
Gọi là Dandamānavakā.
Hồ sen Kuvera,
Chiếu sáng tất cả trời,
Dân chúng gọi phương ấy,
Là phương Uttarā (phương Bắc).
Vị trị vì phương ấy,
Bậc Đại Vương danh xưng,
Chủ các loài Dạ-xoa,
Ðược gọi Kuvera.
Các Dạ-xoa hầu quanh,
Hưởng múa hát của chúng.
Vua này có nhiều con,
Ta nghe chỉ một tên,
Tám mươi và mười một,
Ðại lực, danh Inda.
Họ chiêm ngưỡng Thế Tôn,
Thuộc giòng họ mặt trời.
Từ xa, họ lễ Phật,
Bậc vĩ đại thanh thoát.
"Ðảnh lễ bậc Siêu Nhân!
Ðảnh lễ bậc Thượng Nhân!
Thiện tâm nhìn chúng con,
Phi nhơn cũng lễ Ngài".
Ðã nhiều lần, nghe hỏi,
Nên đảnh lễ như vậy,
"Quý vị xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Chúng con xin đảnh lễ,
Gotama chiến thắng!
Ðảnh lễ Gotama,
Bậc Trí Đức Viên Mãn".
18. Tôn giả, Hộ Kinh Atānātiya này che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Khi một vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ nào sẽ học Hộ Kinh Atānātiya này một cách chín chắn, rõ ràng, nếu có loài phi nhân nào, Dạ-xoa, Dạ-xoa-ni, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ khi vị này đi; đứng gần, khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, thời này Tôn giả,vị phi nhân ấy trong làng hay trong đô thị sẽ không được ai đón mừng hay kính trọng.
Này Tôn giả, phi nhân ấy, trong kinh đô Alakamada của Ta sẽ không tìm được đất đai hay chỗ ở. Vị phi nhân ấy sẽ không được đi dự hội giữa các Dạ-xoa. Này Tôn giả, vị phi nhân ấy sẽ không được cưới hỏi. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dùng những lời nói hỗn láo xấc xược đối với vị ấy. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ dìm đầu vị ấy xuống. Này Tôn giả, các hàng phi nhân sẽ chẻ đầu vị ấy ra làm bảy mảnh.
19. Này Tôn giả, có hàng phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Chúng không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các phi nhân này được xem là thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, như các đại tướng cướp vua xứ Magadha bị chinh phục. Cũng vậy, các vị này không nghe lời các vị Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần của các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị đại tướng cướp này được xem là kẻ thù nghịch của vua xứ Magadha.
Cũng vậy, này Tôn giả, có những vị phi nhân hung bạo, dữ tợn, khủng khiếp. Các vị này không nghe lời các Đại Vương, không nghe lời đình thần của các vị Đại Vương, không nghe lời các vị giúp việc cho các đình thần các vị Đại Vương. Này Tôn giả, các vị phi nhân này được xem là kẻ thù nghịch của các bậc Đại Vương. Này Tôn giả, nếu có vị phi nhân nào, Dạ-xoa hay Dạ-xoa-ni nào, con trai Dạ-xoa, con gái Dạ-xoa, đại thần Dạ-xoa-ni, tùy tùng của Dạ-xoa, hay lao công của Dạ-xoa; hoặc Càn-thát-bà... hoặc Cưu-bàn-trà (Kumbhanda)... hoặc Nāga... đi theo vị Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ hay Nữ cư sĩ khi vị này đi, đứng gần khi vị này đứng; ngồi khi vị này ngồi; nằm khi vị này nằm với tâm niệm độc ác, vị này hãy nói lên, kêu lên, van lên với các những vị Dạ-xoa ấy, đại Dạ-xoa ấy, quân sư, đại quân sư ấy: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
20. Những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư nào được kêu gọi ở đây:
Inda, Soma, và Varuna,
Bhāradvaja, Pajāpati,
Candana, Kāmasettha,
Kinnughandu, Nighandu,
Panāda và Opamanna,
Devanita và Mātali,
Cittasena và Gandhabba.
Vua Nala, Janesabha,
Sātāgira Hemavata,
Punnuaka, Karatiya, Gula,
Sivakat và Mucalinda
Vessāmitta, Yugandhara,
Gopāla và Suppagedha,
Hirī, Settī và Mandiya,
Pancāla Canda, Alavaka,
Pajjunna, Sumana, Sumukha,
Dadhimukha Mani Mānicara, Dīgha,
Atha và Serissaka.
Những vị này là những Dạ-xoa, đại Dạ-xoa, quân sư, đại quân sư cần phải được nói lên, kêu lên, van lên: "Dạ-xoa này bắt tôi, Dạ-xoa này tấn công tôi, Dạ-xoa này đả thương tôi, Dạ-xoa này hại tôi, Dạ-xoa này làm hại tôi, Dạ-xoa này không thả tôi ra".
Này Tôn giả, đây là Hộ Kinh Atānātiyā che chở, hộ trì, ngăn không cho ai làm hại các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ và khiến các vị này sống an lạc.
Thưa Tôn giả, nay chúng tôi cần phải đi, chúng tôi có nhiều việc, có nhiều bổn phận.
- Ðại Vương, Ðại Vương hãy làm điều gì Ðại Vương nghĩ là phải thời.”
21. Rồi bốn vị Đại Vương, từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Ta, thân bên hữu hướng về phía Ta rồi biến mất tại đấy.
22. Này các Tỷ-kheo, hãy học Hộ Kinh Atānātiyā này, hãy thuộc lòng Kinh Atānātiyā này. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ được che chở, được hộ trì, được ngăn khỏi ai làm hại, được sống thoải mái hạnh phúc.
23. Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỷ-kheo ấy hoan hỷ thọ trì lời dạy Thế Tôn.

HT Thích Minh Châu dịch Việt

2/06/2016

Cúng dường tối thượng


DẪN: Mỗi ngày các Chùa đều đang cúng Phật. Mỗi Phật tử đều siêng năng kính lễ, cúng dường Đức Thế Tôn. Thế nhưng không phải ai cũng biết thế nào là LỄ KÍNH PHẬT TỐI THƯỢNG, CÚNG DƯỜNG THẾ TÔN TỐI THƯỢNG.
Trong bài Kinh Đại Bát Niết Bàn (DN 16), trước lúc nhập diệt Đức Thế Tôn đã di giáo điều này:
Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda:
-- Này Ananda, các cây sala song thọ tự nhiên TRỔ HOA TRÁI MÙA tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những THIÊN HOA MANDÀRAVA từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. BỘT TRỜI Chiên đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. NHẠC TRỜI trên hư không trổi dậy để cúng dường Như Lai. THIÊN CA trên hư không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng, này Ananda, NHƯ VẬY KHÔNG PHẢI kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai.
Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nàoTHÀNH TỰU CHÁNH PHÁP VÀ TÙY PHÁP, SỐNG CHƠN CHÁNH TRONG CHÁNH PHÁP, HÀNH TRÌ ĐÚNG CHÁNH PHÁP, THỜI NGƯỜI ẤY KÍNH TRỌNG, TÔN SÙNG, ĐẢNH LỄ, CÚNG DƯỜNG NHƯ LAI VỚI SỰ CÚNG DƯỜNG TỐI THƯỢNG.
Do vậy, này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp và hành trì ĐÚNG CHÁNH PHÁP. Này Ananda, các Người phải học tập như vậy. (Hết trích)
Ý KIẾN: Thế đấy, theo lời Phật dạy dù đất trời có cúng dường Ngài bằng kỳ hoa dị thảo trái mùa, cùng Thiên hoa Mandàrava, Bột trời Chiên đàn, Thiên ca Nhạc trời, thế nhưng đó vẫn không phải là cúng dường tối thượng Đức Như Lai.
Chỉ có Tăng Ni, cư sĩ nào biết thọ trì, tu tập đúng CHÁNH PHẬT PHÁP, những người ấy mới thực sự “kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng”.
Nhưng thế nào là CHÁNH PHẬT PHÁP? Trong suốt tạng kinh Nikaya và ngay trong kinh Đại Bát Niết Bàn này, Đức Thế Tôn đã nhiều lần khuyến giáo những người con của Ngài:
“Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, nay những Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo, thế nào là các Pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để cho Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người? 
Chính là BỐN NIỆM XỨ, BỐN CHÁNH CẦN, BỐN THẦN TÚC, NĂM CĂN, NĂM LỰC, BẢY BỒ-ĐỀ PHẦN, TÁM THÁNH ĐẠO PHẦN. Này các Tỷ-kheo, chính những Pháp này do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để Phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:
Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
TỰ MÌNH LÀM SỞ Y CHO CHÍNH MÌNH,
HÃY TINH TẤN, CHÁNH NIỆM, GIỮ GIỚI LUẬT,
NHIẾP THÚC Ý CHÍ, BẢO HỘ TỰ TÂM.
Ai tinh tấn trong PHÁP VÀ LUẬT này
SẼ DIỆT SANH TỬ, CHẤM DỨT KHỔ ĐAU.” 
(Trích Kinh ‘Đại Bát Niết Bàn’, bản dịch của HT Thích Minh Châu)

Ý KIẾN: Theo chính lời Phật dạy, CHÁNH PHẬT PHÁP của Ngài chính là 37 PHẨM TRỢ ĐẠO, bao gồm Bốn Niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Thần Túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ Đề Phần, Tám Chánh Đạo.
Các Tăng Ni, cư sĩ đang nghĩ mình là con Phật, đang tu theo Phật hãy tự hỏi mình xem đã biết Đức Thế Tôn dạy về các Pháp này trong chánh kinh gốc như thế nào? Họ đã thọ trì và tu tập 37 PHẨM TRỢ ĐẠO đến đâu để thực sự thấy đúng như lời Phật tuyên bố:
"Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, THIẾT THỰC HIỆN TẠI, ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY, KHÔNG CÓ THỜI GIAN, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu" (Kinh Nikaya).
Những ai đang tin tưởng và ca ngợi các pháp môn mình đang tu tập, hãy trung thực tự vấn xem có thực sự thấy nó “thiết thực hiện tại, không có thời gian” không? Hay chỉ hoan hỷ bề ngoài, nhưng bên trong càng tu càng thấy mịt mờ, không tiến bộ, tham sân si vẫn hoàn tham sân si?
Xin đừng tự lừa dối mình, lừa dối mọi người, lừa dối Bậc Đạo Sư! Quý vị có thể qua mắt những người không tu, không hiểu đạo, chứ quý vị không qua mắt được Đức Thế Tôn, không qua mắt được nghiệp báo sanh tử khổ đau trước mắt.
Hãy trở về Chánh Đạo với CHÁNH PHẬT PHÁP để tự cứu mình, cứu người, báo đáp ơn sâu của Phật bằng sự KÍNH LỄ VÀ CÚNG DƯỜNG TỐI THƯỢNG.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

(Ảnh Internet)

2/05/2016

Bệnh gián điệp


Tiểu Muội Muội cẩn thận mang mặt nạ phòng chống hơi độc và bao tay tẩy trùng, thận trọng nhấc ống nghe rồi quay số không-không-không-không-có. Từ đầu dây bên kia, có tiếng chuông vang lên và một giọng nói thều thào, ngắt quãng như của một người sắp chết, đang bị đau đớn khổ sở cùng cực.
Tiểu Muội Muội hỏi lớn:
_ A lô! Xin lỗi, cháu nghe không rõ. Ngài có phải là Bồ-tát Duy Ma Quỷ không ạ?
_ T.a… đ.â.y… G.ì… t.h.ế?
_ Cháu được biết trong hàng chục trang kinh mang tên ngài nói rằng tất cả các Thánh A-la-hán Thanh văn hàng đầu của Tiểu thừa đều phải sợ ngài, không một ai dám đến thăm bệnh ngài…
_ P..h…ả..i...
_ Thế nhưng, trong hàng ngàn trang kinh Nguyên thủy, trên hàng vạn dòng, nơi hàng triệu chữ trong đó, không có một chữ nào nói đến tên ngài, không có một dòng nào nhắc đến sự kiện đặc biệt ấy. Vì sao ngài có biết không?
_ V…ì… s…a…o?
_ Vì mọi người sợ không dám đến thăm ngài nên đã không bị lây căn bệnh nguy hiểm.
_ B.ệ.n.h… g.ì?
_ Bệnh gián điệp đại nói láo, phỉ báng các bậc Thánh. Cháu cũng không dám gặp ngài mà chỉ gọi điện thoại thôi. À, mà ngài đang ở đâu đấy?
_ Đ.ị.a… n.g.ụ.c… A… tỳ… Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Tít…tít…tít…tít…
Tiểu Muội Muội
-------------------------------------
Bài liên quan  http://dieuphapcuukho.blogspot.com/2016/01/hoi-cong-an.html

2/04/2016

Thêm một minh chứng cho ngụy kinh cải biến



Những ai còn chưa tin trong Phật giáo có tà kinh ngụy tạo hãy đọc kĩ bài so sánh dưới đây giữa hai bài kinh tương đương thuộc tạng Pali Nguyên Thủy và tạng A Hàm cải biến.
SO SÁNH
Kinh “Không Uế Nhiễm” (Số 5, Trung Bộ Pali)
và Kinh “Uế Phẩm” (Số 87, Trung A Hàm)
* CHÁNH KINH PĀLI: (Trích nguyên văn lời ngài Xá Lợi Phất) “Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt.
Chư Hiền, ở đây, hạng người có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng.
Chư Hiền, ở đây, có hạng người không có cấu uế nhưng không như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người hạ liệt.
Chư Hiền, ở đây, hạng người không có cấu uế và như thật tuệ tri: "Nội thân ta không có cấu uế". Trong HAI HẠNG NGƯỜI không có cấu uế, hạng người này vì vậy được gọi là hạng người ưu thắng’
* TÀ KINH A HÀM: “Nếu một người bên trong thật có ô uế nhưng tự biết như thật, biết như thật bên trong thật có ô uế, thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối thắng.
Nếu có một người bên trong thật không có ô uế mà không tự biết, không biết như thật bên trong thật không có ô uế, thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối hạ tiện.”
* BÌNH: Theo nguyên bản cả hai bài kinh tương đương trên đều do ngài XÁ LỢI PHẤT thuyết giảng. Thế nhưng so sánh kỹ hai bài kinh sẽ thấy bài kinh ‘Uế Phẩm’ của A Hàm có những cải biên thêm vào hết sức vô lý và thô lậu.
Cụ thể, trong bài kinh ‘Không Uế Nhiễm’ của Pāli, ngài Xá Lợi Phất nêu rõ sự so sánh giữa HAI HẠNG NGƯỜI có cấu uế và không có cấu uế THEO TỪNG CẶP ĐÔI MỘT VỚI NHAU. Điển hình như hai trường hợp đầu:
Trong HAI HẠNG NGƯỜI CÓ CẤU UẾ, người không biết mình có cấu uế hạ liệt hơn người biết mình có cấu uế, ngược lại người biết mình có cấu uế tốt hơn người không biết mình cấu uế.
Vì sao như vậy? Vì người biết mình có cấu uế nên mới cố tâm tẩy trừ cấu uế để trở nên tốt hơn, còn người không thấy mình cấu uế nên cứ cấu uế mãi. Giống như hai người có mặt bị dơ, người thứ nhất biết mặt mình bị dơ nên tìm cách rửa sạch, còn người thứ hai không biết mặt mình dơ nên cứ để dơ mãi.
Cũng vậy, giữa hai kẻ tà dâm thì kẻ tà dâm biết tà dâm là việc xấu xa nguy hại, nhờ vậy mới có cơ hội từ bỏ nó để trở nên tốt hơn. Còn kẻ tà dâm nhưng không thấy tà dâm là cấu uế, nên cứ tiếp tục tà dâm hoài.
Xin nhấn mạnh: ở đây chỉ so sánh GIỮA HAI NGƯỜI cùng phạm tà hạnh thôi, thì người thấy tà dâm là cấu uế có ưu thắng hơn người không thấy, chứ không phải so với trong loài người được.
-- Trong khi đó kinh ‘Uế Phẩm’ của A Hàm đã cải biên một cách hết sức vô lý và thô thiển khi so sánh kẻ cấu uế với CẢ LOÀI NGƯỜI. Cụ thể cứ theo lời phán truyền trong A Hàm, xét các ví dụ sau sẽ thấy rõ hơn sự phi lý của ngụy kinh cải biến:
“Nếu một người bên trong thật có sát sanh, trộm cướp, tà dâm, biết như thật bên trong mình có sát sanh, trộm cướp, tà dâm; thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối thắng ư?" - Vô lý!
“Nếu một người bên trong thật không có sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm nhưng không tự biết mình không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm; thì TRONG LOÀI NGƯỜI, người này là tối hạ tiện sao?" - Tà lý!
Rõ ràng chỉ dựa vào đoạn cải biên vô lý nêu trên cũng đủ để những người có trí phải xem A Hàm như một tạng tà kinh ngụy tạo cần phải cảnh giác. Thế nhưng khốn thay, qua hàng ngàn năm nó vẫn không bị phát giác cảnh báo. Bấy nhiêu cũng đủ thấy sự cả tin ngây thơ trong tôn giáo nguy hiểm như thế nào.
Riêng bài kinh A Hàm này bị các dịch giả Bà-la-môn gọi xách mé là “Kinh Uế Phẩm” kể cũng đúng thôi! Ai vẽ ra và tin theo các kinh ô uế mới chính là những kẻ tối hạ liệt trong loài người!
Theo Kinh Sư Chánh Tư Duy
-----------------------------------
Ghi chú: Kinh Trung Bộ theo bản dịch của HT Thích Minh Châu, kinh Trung A Hàm theo bản dịch của TT Thích Tuệ Sĩ.

2/03/2016

Điên thực sự!


Sau nhiều gian nan thử thách, vượt qua chín lần chín tám mươi mốt hiểm nạn, cuối cùng Thiện Tài Đồng Tử đã tìm gặp được cô cháu gái đời thứ chín mươi của nữ cư sĩ Visakha.

Giờ đây cô cháu gái của bà Visakha vừa là y tá trong một bệnh viện tâm thần, vừa là thành viên của Gia Đình Phật Tử thế hệ mới. Thiện Tài Đồng Tử vừa thi lễ xong, liền cất tiếng hỏi:
_ Thưa cô, vì sao Trí Khải đại sư lại phán rằng Phật thuyết Hoa nghiêm trong 21 ngày ngay sau khi chứng đạo?
_ Vì nếu pháp hội ấy được Phật thuyết trong 45 năm hoằng pháp, thì tại sao trong kinh Nguyên thuỷ Nikaya, một tạng kinh ghi lại từ bao nhiêu tiền kiếp của Phật đến tận lúc Ngài nhập Niết Bàn, nhưng không có một dòng nào, người nào nhắc đến sự kiện dị thường ấy? Phán như vậy để hợp thức hóa sự xuất hiện vô lý, và khoả lấp đi sự tồn tại phi lý của kinh Hoa nghiêm.
Nhưng trong 21 ngày đầu tiên ấy năm anh em ông Kiều Trần Như còn chưa có, vậy tại sao hội Hoa nghiêm lại có các Thanh văn A-la-hán “câm điếc” như các ngài Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, A-nan… cùng hàng ngàn các Tỳ-kheo khác?
_ Ông đi tìm Trí Khải đại sư mà hỏi. Tôi đã muốn điên vì những điều vớ vẩn trong cuốn kinh giả đó, giờ lại càng điên hơn vì những câu hỏi của ông.
Thiện Tài Đồng Tử chắp tay trấn an:
_ Cô không điên đâu, đừng lo!
_ Vì sao?
_ Vì chỉ có những kẻ tin bản kinh dỏm ấy và tin Trí Khải đại sư mới điên thực sự mà thôi!
_ Đúng vậy. Hãy đưa họ vào đây, tôi chữa cho!
Đại Tỉnh Thức

-------------------
Trích lục bài kinh "Mắng Nhiếc", số 211, Tăng Chi tập 2, Chương 5, XXII. Phẩm Mắng Nhiếc

Đức Phật dạy: 

"- Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại. Thế nào là năm?

Phạm tội bị tẩn xuất, chặt đứt con đường hướng thượng;
hay phạm một tội nhiễm;
hay cảm xúc bệnh hoạn trầm trọng;
khi mạng chung tâm bị mê loạn;
sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Tỷ-kheo nào, này các Tỷ-kheo, mắng nhiếc, mạ lỵ, các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh, vị ấy được chờ đợi năm sự nguy hại này." (Hết trích)

Ghi chú: Ai tin các kinh văn cải biến và cũng nghĩ rằng các Thánh Tăng A La Hán Thanh Văn như những kẻ 'mù, câm, điếc' trong pháp hội Hoa Nghiêm, như vậy có phải là họ đã 'mắng nhiếc, mạ lỵ các vị tu Phạm hạnh, phỉ báng bậc Thánh" không? Họ có ngây thơ tin theo 'kẻ lạ' để rồi gánh lấy năm sự nguy hại không?